ỐC BƯƠU VÀNG TIẾNG ANH LÀ GÌ

Họ Ốc bươu (Ampullariidae JE Gray, 1824) có 105-170 loàisống ở nước ngọt với 9 Chi và hơn 150 loài được định danh.Tên khoa họcđồng nghĩa của loài này là Pilidae.

Bạn đang xem: Ốc bươu vàng tiếng anh là gì


Họ Ampullariidaebao gồm hai phân họ (theo phân loại của Gastropoda Bouchet - Rocroi, 2005), dựatrên Hế thống phân loại bởi Berthold (1991):
-TribeAmpullariini Gray, 1824 - Từ đồng nghĩa: Pilidae Preston, 1915 (inv.); LanistimaeStarobogatov, 1983; Pomaceinae Starobogatov, 1983.
Ốc bươu vàng Pomacea canaliculata là một trong nhiềuloài Ốc bươu kích thước lớn trên thế giới. Loài này có nguồn gốc từ Nam Mỹ.
Ốc bươuvàng (Pomacea canaliculata) làloạiốcbươuthuộchọ Pilidae, lớp Chân bụng (Gastropoda), ngành Thân mềm (Mollusca), có nguồn gốcở Trung và Nam Mĩ. Ốc được du nhập vào Việt Nam trong những năm 1985-1988 và đãtrở thành một trong những sinh vật gây hại nghiêm trọng nhất cho nền nôngnghiệpViệtNam.
Trong hai thậpniên 1980s-1990s giống như ở Việt Nam, hàng loạt các nước khác ở Châu Á đã hănghái nhập nội giốc Ốc Bươu vàng từ Nam Mỹ, Châu Âu và các nước Châu Á đã nhậpnội và nuôi trước loài Ốc bươu vàng với ý tưởng tốt đẹp là nhằm để tạo ra nguồnthức ăn mới giàu đạm cho chăn nuôi và bổ sung nguồn thức ăn giàu đạm động vậtcho con người. Kết quả không như mong muốn, trái lại đây là loài dịch hại mớitrên ruộng lúa mà các nước Châu Á tự nguyện “thỉnh về”.
OBV Pomacea canaliculata có nguồn gốc bảnđịa ở Nam Mỹ, được phân bố rộng rãi ở vùng hạ lưu của lưu vực sông Amazon và lưu vực sông Platathuộc các địa phận: Đông Nam Brazil, Argentina,Bolivia, Paraguay và Uruguay.Khu vực này có nhiềuloài Ốc bươu vàng khác nhau, Pomacea canaliculata là một trong những loài Ốcbươu vàng của Nam Mỹ trở thành dịch hại chính ở Châu Á với tên gọi tiếng Anhthông dụng nhất là “ Golden apple snail”. Từ này cũng bao gồm nhiều loài Ốcbươu vàng khác nhau chủ yếu được nuôi làm sinh vật cảnh trong chậu ở Châu Âu vàChâu Mỹ.
OBV Pomacea canaliculata là một loài ốc nướcngọt có kích thước lớn, trong Ampullariidae. Phạm vi phân bố của OBV P.canaliculata về cơ bản là ở vàng nhiệtđới và cận nhiệt đới, bao gồm Argentina,Bolivia, Paraguay, Uruguayvà Brazil.Phạmvi phấn bố ở cực Nam tạiChâu Mỹ của OBV ở hồ Paso de las Piedras, phía nam của tỉnh Buenos Aires, Argentina.
OBV cũng xuấthiện ở Hoa Kỳ, nguồn nhập ban đầu có thể từ những người đam mê sinh vật cảnh.Hiện nay OBV tràn lan ở Mỹ ở các Công viên Langan, Three Mile Creek, Mobile,Alabama; Ở các ao nước giáp Mobile Tensaw thược đồng bằng sông Baldwin County, LittleRiver Wekiva, Orlando và trong nhiều hồ nước như hồ nước gần Jacksonville, ở Florida, HồMirimarSan Diego County ở California, trong ao ở Yuma, Arizona, và rấtnhiều địa điểm ở Hawaii.Quần thể mật độ cao tồn tại ở Californiavà Hawaii.
Cuối thập kỷ 1980sPomacea canaliculata đã lây lan tớiĐông Nam Á và bây giờ chúng là dịch hại nan giải trên ruộng lúa nước ở Indonesia, Philippines,TháiLan, Campuchia, Hồng Kông, miền nam Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam.
OBV cũng đãxâm chiếm các bộ phận phía Nam của Mỹ (Texas và Florida, tối đa ở trung tâmOhio) và dự kiến ​​sẽ lây lan thêm trong những năm đến nhiều khu vực mới trênthế giới, kể cả ở Úc.
Hiện nay OBVcó mật độ rất cao ở các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Philippines, Campuchia, Thái Lan, Lào, Indonesia và cả ở Singapore.Ở các nước khác của Châu Á cũng đang điên đầu vớ dịch OBV như ở Nhật Bản, ĐàiLoan, Hàn Quốc, Sri Lanka và miền nam Trung Quốc.
Ngoài Châu Á,OBV còn xuất hiện nặng nề ở Hawaii, Guam,Papua New Guinea, Cộng hòaDominica, Mỹ (Florida, Texas, California).
OBV Pomacea canaliculata là loài động vậtthân mềm, sống ở nước ngọt với một sự thèm ăn phàm ăn gây hại cho các cây trồngngập nước như sen, súng, củ ấu, lúa và khoai môn nước. Đây là những loài câytrồng phổ biến ở Châu Á, trong đó có cây lúa là quan trọng nhất.
OBV không chỉlà loài dịch hại quan trọng trên ruộng lúa nước mà còn là loài động vật gây hủyhoại môi trường làm cho các loài ốc bản địa bị mất dần đi và tiến tới con đườngtiệt chủng.
Các nghiêncứu gần đây cho biết OBV Pomaceacanaliculata là vật chủ bị ký sinh bởi loài ký sinh trùng Angiostrongylus cantonensis, cơ thể OBVchịu đựng được loài ký sinh này nhưng không bị chết. Khi có nhiều OBV trong môitrường ngập nước, chúng là nguồn lân lan ký sinh trùng A. cantonensis để tiêudiệt các loài ốc địa phương khác.
Kết quả nàyđã được báo cáo khoa học ở Trung Quốc, Philippines và thấy ở Việt Nam các loài ốcđịa phương bị mất dần (nhưng chưa thấy có báo cáo khoa học).

Xem thêm: " Ldp Là Gì, Nghĩa Của Từ Ldp, Ldp Overview


Màu sắc củacơ thể thay đổi từ màu vàng (trong hồ nước sạch), đến màu nâu hoặc gần như màuđen với những đốm vàng trên thành miệng. Khi ngưng hoạt động phần miệng và xúctu được cuộn vào trong thành vỏ và nấp miệng được khép hẹp khi ở dưới nước vàđậy hẳn khi ở môi trường cạn.
Vỏ của OBV dạnggần tròn, trục dọc ngắn hơn trục ngang chút ít. Bình thường màu sắc có thể vàngđậm khi nuôi trong chậu nước sạch, màu nâu khi sống trong nước tốt và màu nâuđen khi sống trong nước bùn. Đại loại màu vàng bị che lấp bởi các màu đậm hơntrong môi trường sống. OBV sống trên ruộng lúa có vân ngang đậm và nhạt thểhie65nto61c độ phát triển của vỏ ốc theo mùa, những vân màu nhạt phát triểntrong mùa ngập và những vân màu đậm phát triển trong mùa cạn, thường các vânnhạt rộng hơn các vân đậm.
Vỏ của loàiOBV gần hình cầu và tương đối nặng, ở môi trường đất phèn nhẹ vỏ ốc mỏng hơn,trên đất phèn nặng OBV khó phát triển. Trên vỏ ốc có5-6 vòng xoắn đượcphân cách bởi một khe sâu thụt vào.
Kích thướcmiệng (khẩu độ) của OBV rộng và có hình bầu dục. OBV đực có khẩu độ tròn hơn sovới ốc cái. Trôn ốc (rốn) rộng lớn và sâu so với các loài ốc bươu địa phương.
Kích thướccủa những con OBV đã già thay đổi từ 40 đến 60 mm bề rộng và 45 đến 75 mm bềdài tùy thuộc vào điều kiện.
Nắp miệng dầyvà có hình gần bầu dục hơi khuyết ở gốc. Ở Ốc nhỏ có màu nhạt và khi già có màuđậm. Nắp miệng ở con đực hơi nhô ra và ở con cái hơi lõm vào ở vùng trung tâm.Nắp miệng và lổ trôn là cơ sở để phân biệt OBV với các loài ốc bươu và ốc látđịa phương và phân biệt giữa con OBV đực và cái.
Loài này,không giống như hầu hết các ốc khác có có kiểu sinh sản lưỡng tính, nó có conđực và con cái phân biệt rõ ràng.
Khi OBV qua45-50 thì đến giai đoạn trưởng thành và có khả năng giao phối và con cái đẻtrứng được. Khi đó chúng đạt kích thước khoảng 2 cm trở lên.
Sau khi giaophối con cái lưu giữ lại tinh trùng của con đực, chỉ một lần giao phối sau đócon cái đẻ nhiều lần với những ổ trứng có thời gian cách xa nhưng trứng vẩnđược thụ tinh bình thường.
Trong môitrường sống ở những vùng mới du nhập, OBV đực và cái có thể giao phối với ốcbươu địa phương nhưng chưa được chứng minh khoa học là có dạng con lai. Bởi vìOBV còn khác xa với các loài ốc bươu địa phương về mặt di truyền. Điểm khácbiệt về cấu trúc cơ thể điển hình là: OBV vừa có mang vừa có phổi,trong khi đó ốc bươu địa phương sống dưới nước chỉ có mang mà thôi.
Do giàucarotenoid nên vỏ trứng có màu đỏ đậm hơi tím. Các trứng gắn với nhau thànhkhối và ổ trứng được đẻ trên các giá thể cách mặt nước 20-80 cm, kích thước mỗiquả trứng từ 0,5-1 mm. Hình dạng của ổ trứng thay đổi tùy vào địa thế nơi đẻ.
Một ổ trứngcủa OBV có từ 200-600 trứng. Nơi con cái chọn đặt ổ trứng luôn luôn khi nở ốccon rơi ngay vào mặt nước, không có những ổ trứng mà đường thẳng đứng của nó đểrơi vào đất cạn.
Trứng nở saukhi đẻ 10-20 ngày thì nở, tỷ lệ nở rất cao. Có lẽ ổ trứng OBV được tẩm hóa chấtbảo vệ nên ít bị côn trùng, chim và ngay cả vịt đẻ cũng không muốn ăn ổ trứngốc dù chúng rất bổ dưỡng và có mà sắc hấp dẫn.
Giai đoạn ấutrùng (ốc con) của OBV khoảng 45-50 ngày. Trong giai đoạn này chúng ăn phiêusinh vật trôi nổi trong nước và sinh vật đáy ở mặt đất, chưa có khả năng ănđược các loại thực vật bậc cao. Ấu trùng OBV di chuyển chủ yếu nhờ vào dòngchảy của mặt nước.
Qua giai đoạnấu trùng OBV bắt đầu gây hại thực vật thủy sing sống trong nước và cây lúa (mầm,mạ non và chồi non).
Tuổi thọ củaOBV là 3-4 năm.Trưởng thành sinh sản đạt được trong 3 tháng đến 2 năm,tùy thuộc vào chế độ nhiệt độ môi trường xung quanh.